Lịch sử hình thành và phát triển của Liên đoàn

Thu09212017

Last update02:23:25 AM GMT

Back Giới thiệu Giới thiệu Lịch sử hình thành

Lịch sử hình thành và phát triển của Liên đoàn

LIÊN ĐOÀN QUY HOẠCH VÀ ĐIỀU TRA TÀI NGUYÊN NƯỚCMIỀN BẮC
QUÁ TRÌNH XÂY DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN
LOGO
 

Liên đoàn Quy hoạch và Điều tra tài nguyên nước miền Bắc tiền thân là Liên đoàn Địa chất số 2 làm nhiệm vụ thăm dò than vùng Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh được Nhà nước cho chuyển sang làm nhiệm vụ điều tra, đánh giá tài nguyên nước dưới đất từ cuối năm 1973. Ngày 15/3/1974, Tổng cục Địa chất có Quyết định số 122/QĐ-TC quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Liên đoàn, đổi tên thành Liên đoàn 2 Địa chất thủy văn, là đầu mối để quản lý thống nhất các Đoàn Địa chất thủy văn của Tổng cục. Liên đoàn lấy ngày đó làm Ngày truyền thống. Năm 1997, Bộ Công nghiệp đổi tên thành Liên Đoàn Địa chất thủy văn-Địa chất công trình miền Bắc cho phù hợp với chức năng, nhiệm vụ được giao. Năm 2008, Bộ Tài nguyên và Môi trường đổi tên thành Liên đoàn Quy hoạch và Điều tra tài nguyên nước miền Bắc cho phù hợp với chức năng, nhiệm vụ được bổ sung và điều chỉnh.

Thời kỳ  đầu, Liên đoàn có 15 đơn vị thành viên với trên 2.000 cán bộ công nhân viên là lực lượng nòng cốt để điều tra, đánh giá Địa chất thủy văn và Địa chất công trình trên địa bàn cả nước. Năm 1976, Liên đoàn tách một bộ phận để thành lập Liên đoàn 7 Địa chất thủy văn, (nay là Liên đoàn Quy hoạch và Điều tra tài nguyên nước miền Trung). Năm 1981, Liên đoàn tách tiếp một bộ phận để thành lập Liên đoàn 8 Địa chất thủy văn, (nay là Liên đoàn Quy hoạch và Điều tra tài nguyên nước miền Nam).

Ngoài ra, Liên đoàn còn cung cấp nhiều cán bộ cho các đơn vị trong ngành như: Cục Địa chất và Khoáng sản Việt Nam (nay là Tổng cục Địa chất và Khoáng sản Việt Nam), Cục Quản lý tài nguyên nước, Trung tâm Quy hoạch và Điều tra tài nguyên nước quốc gia, Viện Khoa học Địa chất và Khoáng sản …

Hiện nay, Liên đoàn là đơn vị sự nghiệp trực thuộc Trung tâm Quy hoạch và Điều tra tài nguyên nước quốc gia, có chức năng lập quy hoạch và điều tra cơ bản tài nguyên nướctrênđịa bàn các tỉnh, thành phố từ Thừa Thiên - Huế trở ra (gọi tắt là các tỉnh miền Bắc); thực hiện các dịch vụ công về tài nguyên nước.

Với lực lượng lao động gần 300 người. Cơ cấu tổ chức Liên đoàn với 8 phòng chức năng, chuyên môn và 6 đơn vị trực thuộc, gồm:

+ Đoàn tài nguyên nước Duyên hải Bắc Trung Bộ có trụ sở tại 250 Phan Bội Châu, TP. Huế, tỉnh Thừa Thiên - Huế;

+ Đoàn tài nguyên nước Bắc Trung Bộ có trụ sở tại 30, đường An Dương Vương, TP. Vinh, tỉnh Nghệ An;

+ Đoàn tài nguyên nước Đồng bằng Sông Hồng có trụ sở tại 10, ngõ 42, phố Trần Cung, quận Cầu Giấy, TP. Hà Nội;

+ Đoàn tài nguyên nước Tây Bắc có trụ sở tại xã Thanh Lâm, huyện Mê Linh, TP. Hà Nội;

+ Đoàn tài nguyên nước Việt Bắc có trụ sở tại số 1 đường Trung Tâm, thị trấn Ba Hàng, huyện Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên

+ Đoàn TNN Đông Bắc có trụ sở tại 216 Nguyễn Trãi II, thị xã Chí Linh, tỉnh Hải Dương.

Trong hơn 40 năm qua, Liên đoàn đã đạt được những thành tựu to lớn trong công tác điều tra cơ bản về Địa chất thủy văn, Địa chất công trình, Quy hoạch, điều tra đánh giá TNN (TNN) kể cả nước khoáng, nước nóng; điều tra địa chất đô thị, địa chất tai biến, địa chất môi trường...

Điều tra cơ bản về Địa chất thủy văn và Địa chất công trình thực hiện bằng việc đo vẽ lập bản đồ Địa chất thủy văn và Địa chất công trình tỷ lệ trung bình (1: 200.000) và tỷ lệ lớn (1: 50.000-1: 25.000). Đo vẽ lập bản đồ Địa chất thủy văn và Địa chất công trình tỷ lệ 1: 200.000 đã hoàn thành ở 11 đề án trên diện tích khoảng 90.000 km2, đạt 56% diện tích địa bàn hoạt động của Liên đoàn, còn nếu tính riêng bản đồ Địa chất thủy văn tỷ lệ 1: 200.000 thì đã phủ kín trên 150.000 km2, đạt gần 95% địa bàn hoạt động của Liên đoàn. Công tác đo vẽ lập bản đồ Địa chất thủy văn và Địa chất công trình tỷ lệ lớn được thực hiện chủ yếu ở  tỷ lệ 1: 50.000 trong 16 đề án ở các vùng đồng bằng, một ít ở trung du và vùng núi là các khu vực phát triển kinh tế, trong đó bản đồ Địa chất thủy văn phủ được diện tích khoảng 20.000 km2, đạt 12,5%, bản đồ Địa chất công trình phủ được khoảng 15.000 km2, đạt 9,3 % địa bàn hoạt động của Liên đoàn. Kết quả điều tra cơ bản về Địa chất thủy văn là việc phân chia ra được các đơn vị chứa nước và không chứa nước, đánh giá được các quy luật phân bố cả về chất và về lượng của nước dưới đất, còn về Địa chất công trình là đã đánh giá được điều kiện Địa chất công trình, phân chia ra các vùng, khu, khoảnh… có mức độ thuận lợi khác nhau cho mục đích xây dựng. Kết quả điều tra cơ bản về Địa chất thủy văn và Địa chất công trình có ý nghĩa rất lớn, làm tiền đề cho các nghiên cứu tiếp theo, phục vụ lập quy hoạch phát triển kinh tế-xã hội của đất nước.

 Công tác tìm kiếm và thăm dò nước dưới đất được Liên đoàn thực hiện từ trước những năm 90 của thế kỷ trước. Đã hoàn thành ở 73 vùng mỏ với tổng diện tích khoảng 20.000 km2, đánh giá trình duyệt trữ lượng nước dưới đất cấp A là 676.000 m3/ng; cấp B là 656.000 m3/ng. Kết quả này được sử dụng để xây dựng các nhà máy khai thác lớn từ nguồn nước dưới đất như ở Hà Nội, Bắc Ninh, Vĩnh Yên, Phúc Yên, Sơn Tây, Hải Dương, Hưng Yên, Tuyên Quang, Thái Nguyên, Bỉm Sơn, khu vực Bãi Cháy - Hòn Gai - Cẩm Phả, Quảng Ninh.

Công tác điều tra, đánh giá tài nguyên nước dưới đất có hình thức rất đa dạng, được tiến hành ở các vùng kinh tế trọng điểm, vùng phát triển kinh tế theo chủ trương của Nhà nước, vùng đặc biệt khó khăn về nước sinh hoạt và đã đạt được những thành tựu đáng kể. Liên đoàn đã hoàn thành Chương trình điều tra, đánh giá nước dưới đất vùng núi, hoàn thành ở 33 vùng là các thị trấn, thị tứ, các tụ điểm dân cư thuộc 19 tỉnh miền núi phía Bắc. Kết quả đã phát hiện, xác định được 34.000 m3/ng nước dưới đất có chất lượng tốt, có thể xây dựng các công trình khai thác quy mô nhỏ phục vụ dân sinh. Đối với 7 tỉnh miền núi phía Bắc đặc biệt khó khăn, Liên đoàn đã thực hiện điều tra ở 13 vùng thuộc các tỉnh Điện Biên, Sơn La và Hà Giang, kết quả có 38 lỗ khoan có nước có thể khai thác với tổng lưu lượng 15.000 m3/ng và xây dựng công trình khai dẫn đơn giản phục vụ nhân dân.

Các đề án điều tra đánh giá nước dưới đất ở các vùng có kết quả đánh giá trữ lượng lớn hoặc có ý nghĩa cung cấp nước cho dân sinh là vùng Chân Mây - Phú Lộc, tỉnh Thừa Thiên - Huế, nằm sát bờ biển, đã xác định nguồn nước nhạt dưới đất có trữ lượng khai thác là 14.840 m3/ng; các trầm tích Neogen vùng Hà Nội: 18.248 m3/ng; 8 đảo thuộc tỉnh Quảng Ninh gồm Thanh Lân, Cô Tô, Đảo Trần, Quan Lạn, Ngọc Vừng, Chiến Thắng, Vĩnh Thực và Trà Ngọ có kết quả đánh giá trữ lượng nước dưới đất là 3.400 m3/ng, nước có chất lượng tốt. Đặc biệt, với việc phát hiện nguồn nước dưới đất tại khu vực thị trấn Mèo Vạc, tỉnh Hà Giang – thuộc cao nguyên đá vôi vô cùng khan hiếm nước với lưu lượng 1.114 m3/ng, đã trở thành 1 trong những sự kiện nổi bật năm 2012 của Bộ TN&MT. Các kết quả đánh giá trữ lượng trên đây có độ tin cậy tương ứng  cấp C1. Ngoài ra, Liên đoàn là lực lượng nòng cốt thực hiện hoàn thành đề án Điều tra, đánh giá nguồn nước dưới đất khu vực trung du và miền núi Bắc Bộ, một phần việc của chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 37-NQ/TW của Bộ chính trị Đảng cộng  sản Việt Nam ngày 01/7/2004 về phát triển kinh tế vùng núi và trung du Bắc Bộ.

 Công tác tìm kiếm và thăm dò nước khoáng, nước nóng được Liên đoàn thực hiện ở 13 vùng mỏ và phát hiện hàng trăm điểm nước khoáng, nước nóng khác nhau có giá trị. Kết quả đã xác định được trữ lượng xếp cấp B là 3.300 m3/ng; cấp C1 là 7.000 m3/ng làm cơ sở để xây dựng các khu điều dưỡng hoặc khai thác đóng chai như: Quang Hanh, tỉnh Quảng Ninh; Kim Bôi, tỉnh Hòa Bình;  Mỹ Lâm, tỉnh Tuyên Quang; Bản Khạng, tỉnh Nghệ An…

 Liên đoàn đã hoàn thành điều tra địa chất đô thị ở 23 thành phố, thị xã phía Bắc với tổng diện tích 5.600 km2. Kết quả ở mỗi đô thị điều tra đã thành lập được đồng bộ các bản đồ: Địa chất và Khoáng sản, địa mạo - tân kiến tạo, vỏ phong hóa, Địa chất thủy văn, Địa chất công trình, địa chất môi trường và phân vùng định hướng sử dụng đất tỷ lệ lớn phục vụ lập hoặc điều chỉnh quy hoạch đô thị. Đặc biệt Liên đoàn vừa kế thúc Dự án "Điều tra, đánh giá tài nguyên nước vùng Thủ đô Hà Nội" trên diện tích tự nhiên 13.436 km2 (tại 07 tỉnh, thành phố: Hà Nội, Vĩnh Phúc, Hưng Yên, Bắc Ninh, Hải Dương, Hà Nam và Hòa Bình). Dự án đã đã góp phần quan trọng vào việc đánh giá sơ bộ khả năng khai thác, sử dụng nguồn nước cho nhu cầu cấp nước sinh hoạt, sản xuất ở các khu vực đô thị trong vùng Thủ đô. Ngoài ra, kết quả thực hiện dự án đã góp phần quan trọng trong việc thực hiện Quyết định số 490/QĐ-TTg phê duyệt Quy hoạch xây dựng vùng Thủ đô Hà Nội đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2050, với mục tiêu phát huy mọi tiềm năng, lợi thế của vùng nhằm phát triển Thủ đô Hà Nội có đủ chức năng và vị thế của một trung tâm đô thị hiện đại trong khu vực Đông Nam Á và châu Á; giải quyết những bất cập, mâu thuẫn đang tồn tại ảnh hưởng tới quá trình phát triển chung cho cả vùng Thủ đô Hà Nội. Phát triển hài hoà, nâng cao chất lượng hệ thống đô thị trong vùng nhằm giảm sự tập trung vào Thủ đô Hà Nội trên cơ sở xây dựng hệ thống hạ tầng kỹ thuật diện rộng cấp vùng, tạo điều kiện thuận lợi để phát triển kinh tế, bảo vệ môi trường, bảo đảm phát triển bền vững cho toàn vùng.

Công tác quan trắc nước dưới đất được Liên đoàn thực hiện xây dựng bổ sung để hoàn chỉnh mạng lưới ở Đồng bằng Bắc Bộ, thực hiện quan trắc liên tục và cập nhật cơ sở dữ liệu động thái nước dưới đất ở Đồng bằng Bắc Bộ và khu vực Bắc Trung Bộ phục vụ công tác quản lý và yêu cầu khác của nền kinh tế quốc dân.

Liên đoàn tham gia tích cực công tác nghiên cứu khoa học công nghệ: Chủ trì hoàn thành 3 đề tài cấp Nhà nước, hàng chục đề tài cấp Bộ, nhiều đề tài cấp cơ sở; Biên soạn và xuất bản 2 chuyên khảo về nước dưới đất, chủ trì hoặc tham gia biên soạn hàng loạt các văn bản quy phạm pháp luật như: Thông tư của Bộ, quy trình, quy phạm, hướng dẫn kỹ thuật để thống nhất quản lý và thực hiện trong ngành.

Hiện nay Liên đoàn đang chủ trì thực hiện 01 đề án điều tra đánh giá tổng quan TNN tỷ lệ 1/100.000 lưu vực sông Lô-Gâm; 01 dự án Điều tra đánh giá sơ bộ tài nguyên nước tỷ lệ 1/50.000 vành đai kinh tế ven biển vịnh Bắc Bộ; tiếp tục quan trắc NDĐ vùng đồng bằng Bắc Bộ và khu vực Bắc Trung Bộ; 02 đề tài khoa học - công nghệ cấp Bộ. Ngoài ra còn  tham gia thực hiện các dự án lớn như: Bảo vệ nước dưới đất ở các đô thị lớn (tại Đô thị Hà Nội, Hải Dương...); Điều tra, đánh giá nguy cơ thảm họa trượt lở đất đá các vùng núi Việt Nam; Điều tra cơ bản tài nguyên môi trường một số hải đảo, cụm đảo lớn, quan trọng phục vụ quy hoạch phát triển kinh tế biển và bảo vệ chủ quyền lãnh hải; Tham gia thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia ứng phó với biến đổi khí hậu và đang chuẩn bị triển khai thực hiện Điều tra, tìm kiếm nguồn nước dưới đất 9 tỉnh vùng núi cao, vùng khan hiếm nước gồm: Cao Bằng, Hà Giang, Ninh Bình, Nghệ An, Hà Tĩnh,Quảng Bình, Quảng Trị, Lào Cai và Sơn La thuộc Chương trình “Điều tra, tìm kiếm nguồn nước dưới đất để cung cấp nước sinh hoạt ở các vùng núi cao, vùng khan hiếm nước”...

Về lĩnh vực lập quy hoạch tài nguyên nước, Liên đoàn đã chủ động quan hệ với các địa phương để thực hiện lập quy hoạch TNN cho các tỉnh. Đến nay, đã hoàn thành lập quy hoạch tài nguyên nước cho các tỉnh Cao Bằng, Hà Giang, Yên Bái, Hòa Bình, Bắc Ninh, Hải Dương, Quảng Ninh và Hà Tĩnh, Vĩnh Phúc. Hiện đang thực hiện quy hoạch TNN cho tỉnh Hà Giang, Điện Biên...

Về lĩnh vực Địa chất công trình, đã tiến hành điều tra đánh giá về Địa chất công trình, điều tra đánh giá các tai biến địa chất liên quan đến nước dưới đất  như sụt đất, lún đất ở Lê Thanh, Lê Xá thuộc TP. Hà Nội, Ký Phú-Thái Nguyên và Thanh Ba-Phú Thọ…

Ngoài ra, Liên đoàn còn thực hiện hàng loạt các hoạt động tư vấn dịch vụ theo năng lực, sở trường như: Thăm dò đánh giá trữ lượng nước dưới đất, khoan kết cấu lỗ khoan khai thác, điều tra đánh giá tài nguyên nước, quy hoạch tài nguyên nước, xây dựng cơ sở dữ liệu tài nguyên nước, thiết kế và thi công xây dựng mạng lưới quan trắc tài nguyên nước, khảo sát địa chất công trình, khảo sát đánh giá tai biến địa chất liên quan đến tài nguyên nước… với nguồn thu đáng kể vừa đem lại các lợi ích cho xã hội vừa nâng cao đời sống của cán bộ công nhân viên.

Trong hơn 40 năm qua, Liên đoàn luôn luôn duy trì được phong trào thi đua yêu nước, thực hiện tốt các nghĩa vụ với nhà nước về thu nộp ngân sách, làm tốt các nghĩa vụ đối với các địa phương nơi đóng quân: Đã nuôi dưỡng suốt đời 01 Bà mẹ Việt Nam anh hùng, xây dựng 01 nhà tình nghĩa cho 1 đồng chí thương binh nặng, góp vốn để xây dựng 1 đài tưởng niệm liệt sĩ, tặng giếng khoan khai thác cấp nước sạch 150 m3/ngày đêm cho Trại thương binh nặng Duy Tiên, Hà Nam. Trong những năm gần đây, hằng năm đều vận động CBCNV trích một số ngày lương góp vào quỹ ủng hộ người nghèo, quỹ đền ơn đáp nghĩa, quyên góp ủng hộ các nạn nhân bị lũ lụt, thiên tai, chất độc màu da cam, trẻ em mồ côi, người già cô đơn, người khuyết tật… với số tiền hàng trăm triệu đồng.

Ghi nhận những cống hiến và nỗ lực của CBCNV Liên đoàn, Nhà nước đã tặng thưởng Liên đoàn Huân chương Lao động hạng Ba năm 1983, hạng Hai năm 1989, hạng Nhất năm 1999 và Huân chương Độc lập Hạng Ba năm 2009. Được Chính phủ, Bộ Công nghiệp, Bộ Tài nguyên và Môi trường tặng nhiều cờ thi đua đơn vị dẫn đầu và Bằng khen...

Trong quá trình xây dựng và trưởng thành, Liên đoàn đã đóng góp một phần công sức, trí tuệ, thành quả lao động phục vụ tích cực trong quá trình đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, hội nhập kinh tế Quốc tế và cho sự phát triển không ngừng của ngành Tài nguyên và Môi trường.

  • a1.jpg
  • a2.jpg
  • a3.jpg
  • a4.jpg
  • a5.jpg
  • a6.jpg
  • A6_15_3_2014.jpg
  • a7.jpg
  • a8.jpg
  • a51.jpg
  • a52.jpg
  • a53.jpg
  • a54.jpg
  • a55.jpg
  • banner_40nam.jpg
  • banner_nu.jpg
  • IMG_5153.jpg
  • IMG_5170.jpg
  • IMG_5183.jpg
  • IMG_5203.jpg